Từ ngày 9 đến ngày 12 tháng 05 năm 2016, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm hai vụ án hình sự : “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Agribank Chi nhánh 6 và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” xảy ra tại Agribank Bình Chánh.
Riêng vụ án “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Agribank Chi nhánh 6 là một trong 8 đại án.
Nên sau khi được Tòa án nhân dân cấp cao thông báo ngày xét xử, tôi và Luật sư Trần Kim Ni đã tập trung chuẩn bị cho việc bào chữa.
Đến trưa thứ bảy 7/5/2016 Luật sư Trần Kim Ni đã chuẩn bị xong phần bào chữa của mình. Nhưng đến 2 giờ chiều ngày 7/5/2016 Luật sư Trần Kim Ni bị tai nạn phải vào bệnh viện cấp cứu. Nhưng rất may, Luật sư Trần Kim Ni không bị chấn thương ở đầu và xương nhưng phải mổ ở chân. Chiều ngày 9/5/2016 Luật su Trần Kim Ni xuất viện nhưng chưa đi lại được.
Tôi đã thay Luật sư Trần Kim Ni trình bày phần bào chữa cho bị cáo Dương Thanh Cường mà Luật sư Ni đã chuẩn bị.
Tôi giới thiệu lại các bào bào chữa tại 2 phiên tòa phúc thẩm trên để các đồng nghiệp trẻ tham khảo.
A. Bài bào chữa của Luật sư Trần Kim Ni và Luật sư Nguyễn Đăng Trùng cho bị cáo Dương Thanh Cường tại phiên Tòa phúc thẩm. Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong vụ án “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Agribank chi nhánh 6.
Kính thưa quý Tòa,
Qua nghiên cứu Bản án hình sự sơ thẩm số 392/2015/HSST ngày 05/11/2015 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nghe các bị cáo khai nhận tại phiên tòa và nghe Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm về vụ án, Tôi đề nghị quý tòa xem xét cho bị các Dương Thanh Cường nội dung sau đây:
1. Trước hết về tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Bản án sơ thẩm Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận quan điểm của Viện Kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh : “ Hợp đồng tín dụng vay 170 tỷ đồng giữa Công ty Tấn Phát và Agribank Chi nhánh 6 được bên thứ 3 là Lê Thành Công thế chấp khi đất số 10 Âu Cơ, quận Tân Phú, tuy nhiên sau khi rút được 170 tỷ đồng để chuyển trả cho Tập đoàn dệt may Việt Nam, Dương Thanh Cường đã chỉ đạo Thái Cường mượn bộ hồ sơ này ra làm thủ tục sang tên qua Công ty Đông Phương Phát rồi chiếm đoạt luôn số tiền vay bằng cách đưa bộ hồ sơ số 10 Âu Cơ, quận Tân Phú qua Ngân hàng khác thế chấp gán nợ”.
Sự thật có phải là số 10 Âu Cơ sau khi chuyển sang tên cho Công ty Dông Phương Phát thì Dương Thanh Cường đưa bộ hồ sơ qua thế chấp để vay tại Ngân hàng Phương Nam rồi sau đó gán nợ cho Ngân hàng này để chiếm đoạt 44.575.898.130 đồng trong khoản vay 170 tỷ đồng tại Agribank chi nhánh 6 không?
Theo tôi là không.
Bởi vì 3 lý do sau đây:
Thứ nhất, thực tế số 10 Âu Cơ, quận Tân Phú là của bị cáo Dương Thanh Cường:
Khi chuyển quyền sử dụng đất số 10 Âu Cơ, quận Tân Phú sang Công ty Đông PHương Phát thì vốn góp của Dương Thanh Cường trong công ty Đông Phương Phát là 80% vốn góp của Công ty bất động sản Phương Nam là 10%, còn lại 10% vốn góp là của Công ty dệt kim Đông Phương. Và như khai nhận của bị cáo Dương Thanh Cường và ông Nguyễn Hồng Hải – Đại diện Công ty Bất động sản Phương Nam tại phiên tòa sơ thẩm ( Bút lục 16191) thì 10 % vốn góp của Công ty Bất động sản Phương Nam cũng là của bị cáo Dương Thanh Cường.
Công ty Đông Phương Phát có 03 cổ đông, trong đó 90% vốn góp là của Dương Thanh Cường.
Thứ hai, giá trị tài sản số 44 An Dương Vương và 13 tài sản khác mà Dương Thanh Cường đưa vào thế chấp bổ sung thực chất là thay thế tại Agribank chi nhánh 6 là cao hơn giá trị vốn vay 170 tỷ đồng của Công ty Tấn Phát:
Sau khi đưa bộ hồ sơ số 10 Âu Cơ, quận Tân Phú đã sang tến Công ty Đông Phương Phát qua Ngân Hàng Phương Nam thế chấp thì Dương Thanh Cường đã đưa 13 tài sản khác vào Agribank chi nhánh 6 để thế chấp bổ sung, đồng thời Dương Thanh Cường cũng thống nhất với Agribank chi nhánh 6 bán tài sản 44 An Dương Vương được 62,491 tỷ đồng.
Vậy, tổng giá trị tài sản của 13 tài sản do Dương Thanh Cường đưa vào thế chấp bổ sung và 44 An Dương Vương là bao nhiêu?
Kính thưa quý Tòa,
Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (Bút lục 4595 đến 4610, 4458 đến 4474, 4475 đến 4495, 4502 đến 4528, 4534 đến 4565, 4575 đến 4591) thì con số này là 211 tỷ đồng. Con số này cao hơn giá trị vốn vay 170 tỷ đồng của công ty Tấn Phát là 41 tỷ đồng. Điều này có nghĩa là các tài sản Dương Thanh Cường đã thế chấp gồm 44 An Dương Vương và 13 tài sản thế chấp bổ sung không những đã đủ đăm bảo trả nợ gốc tại Agribank chi nhánh 6 là 170 tỷ đồng mà còn dư 41 tỷ.
Đồng thời, Điều 4 Nghị Định số 26/2005/NĐ-CP ngày 02/03/2005 về Hội đồng đánh giá tài sản trong tố tụng hình sự có quy định về Giá trị pháp lí của kết luận định giá tài sản như sau: “ Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản quy định tại Nghị định này chỉ là một trong những căn cứ để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét giải quyết những vấn đề có liên quan đến tài sản trong tố tụng hình sự”. Cho nên theo tôi, giá trị tài sản do chính Ngân hàng thẩm định giá, thuế công ty định giá phù hợp với giá trị thực tế của tài sản, có lợi cho bị cáo và cũng là một căn cứ để được quý Tòa cân nhắc, xem xét.
Thứ 3, bị cáo Dương Thanh Cường không gán nợ quyền sử dụng đất số 10 Âu Cơ cho Ngân Hàng Phương Nam:
Vào tháng 3/2010 bị cáo Dương Thanh Cường đã bán Dự án số 10 Âu Cơ cho Công ty Thao Loan giá 805 tỷ. Nên bị cáo Dương Thanh Cường không thể gán nợ quyền sử dụng đất số 10 Âu Cơ cho Ngân hàng Phương Nam.
Mặc dù Bản án sơ thẩm có nêu: “Ngày 23/3/2010. Do không có tiền trả nợ ngân hàng Phương Nam nên Dương Thanh Cường ký gán Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 10 Âu Cơ, để hoàn tất Hợp đồng tín dụng số 0013/01/2009 của Công ty Đông Phương Phát và Hợp Đồng tín dụng số 0027/003/2009 của Công ty Châu Hoàng Ngân”.
Nhưng đối với hợp đồng tín dụng số 0013/01/2009 của Công ty Đông Phương Phát, Dương Thanh Cường đã hoàn tất bằng cách Công ty Lan Trúc Hương nhận nợ của công ty Đông Phương Phát chuyển thành nợ của Công ty Lan Trúc Hương tại Ngân Hàng Phương Nam 420 tỷ (theo hợp đồng tín dụng số 0024/03/2010). Sự việc này được chứng minh bằng việc Công ty Lan Trúc Hương chuyển khoản để tất toán khoản vay 420 tỷ tại Ngân hàng Phương Nam (theo ghi nhận của Phiếu chuyển khoản trả nợ vay số 34 ngày 27/11/2014).
Còn Hợp đồng tín dụng số 0027/03/2009 của Công ty Châu Hoàng Ngân, Dương Thanh Cường đã tất toán bằng việc gán 23 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Phương Nam. Cụ thể, Dương Thanh Cường gán 23 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ngân hàng Phương Nam để tất toán các khoản vay 80 tỷ và 9000 lượng vàng; và khoản vay 100 tỷ của Hợp đồng tín dụng số 0027/03/2009 của Công ty Châu Hoàng Ngân.
Đặc biệt tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Ngân hàng Phương Nam đã khai nhận (Bút lục 16232) : “ Năm 2014, công ty Đông Phương Phát đã tất toán khoản vay nên Ngân hàng đã bàn giao toàn bộ hồ sơ Giấy chứng nhận số 10 Âu Cơ trả lại Công ty Đông Phương Phát”. Lời khai nhận này đã gián tiếp chứng minh cho sự việc : “ Nếu Dương Thanh Cường gán số 10 Âu Cơ cho Ngân hàng Phương Nam thì số 10 Âu Cơ đã thuộc về Ngân hàng Phương Nam, hoàn toàn không có sự việc Ngân hàng Phương Nam bàn giao lại số 10 Âu Cơ cho công ty Đông Phương Phát vào nam 2014”.
Tóm lại Bị cáo Dương Thanh Cường không chiếm đoạt 44 575 898. 130 đồng trong khoản vay 170 tỷ tại Agribank chi nhánh 6.
Bởi vì tài sản thế chấp của Dương Thanh Cường cao hơn khoản vay 170 tỷ là 41 tỷ.
(Phần này Luật sư Trần Kim Ni chuẩn bị, Luật sư Nguyễn Đăng Trừng chỉ thay Luật sư Ni trình bày tại phiên tòa).
II. Về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Tôi đề nghị quý Tòa xem xét cho bị cáo Dương Thanh Cường mấy điểm sau đây:
1). Thứ nhất: bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh cho rằng: “ Việc công ty Long “V” có cam kết về việc chuyển giao 38 ha đất tại Long An cho Agribank chi nhánh 6 nhưng không có chứng từ nào thể hiện bị cáo Cường thanh toán cho công ty Long “V”” ( trang 34).
Nghĩa là theo bản án sơ thẩm thì bị cáo DƯơng Thanh Cường không trả tiền mua 38 ha cho công ty Long “ V”.
Vâỵ thực tế bị cáo Dương Thanh Cường đã trả tiền mua 38 ha cho công ty Long “V” không?
Tôi khẳng định bị cáo Dương Thanh Cường đã trả tiền rồi.
Nhưng cơ sở nào tôi khẳng định như vậy?
Bởi vì nếu bị cóa Dương Thanh Cường không trả tiền thì công ty Long “V” không bao giờ cam kết bàn giao 36 ha đất cho Agribank chi nhánh 6.
Ở đây không chỉ có việc ông Ngô Chí Dũng, Giám đốc công ty Long “V” ký biên bản cam kết trước khi ông Ngô Chí Dũng ký cam kết, Hội đồng quản trị công ty Long “V” đã họp và nhất trí cam kết chậm nhất đến ngày 15/11/2012 công ty Long “V” sẽ thay mặt công ty Thanh Phát bàn giao 38 ha đất cho Agribank chi nhánh 6.
Nên chắc chắn không có việc bị cáo Dương Thanh Cường không trả tiền mua 38 ha.
Nếu Dương Thanh Cường chưa trả tiền cho công ty Long “V” thì cam kết của công ty Long “V” phải là một cam kết có điều kiện và phải ghi rõ điều kiện đó là chỉ khi nào công ty Thanh Phát thanh toán xong thì công ty Long “V” mới bàn giao 38 ha đất cho Agribank chi nhánh 6.
Nhưng ở đây bản cam kết ngày 16 tháng 11 năm 2011 đã ghi rõ :
“ Nay công ty chứng tôi ( tức công ty Long “V”) đồng ý thực hiện theo đề nghị của công ty TNHH SX- XD- Thương mại _ Thanh Phát là công ty chúng tôi bàn giao trực tiếp toàn bộ GCNQSDĐ khu đất nói trên ( 38 ha) cho Quý Ngân Hàng.
Nếu không thực hiện được công ty chúng tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển nông thôn chi nhánh 6”
Thưa quý tòa, đây không phải là một cam kết có điều kiện mà là bản cam kết vô điều kiện.
Nghĩa là có cơ sở thực tế và pháp lí để khẳng định rằng Dương Thanh Cường để trả tiền mua 38 ha đất cho công ty Long “V”.
Ở đây còn có một vấn đề cần được xác định rõ.
Có phải trị giá 38 ha đất mà công ty Long “V” bán cho công ty Thanh Phát chỉ có 39 tỷ không.
Theo tôi hoàn toàn không phải. Vậy trị giá 38 ha là bao nhiêu?
Như bị cáo Dương Thanh Cường đã khai nhận tại CQĐT, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm này trị giá 38 ha đất đó là 651 tỷ.
Bởi ví kết quả thẩm định của công ty thẩm định Nhà nước đối với 38 ha là 651 tỷ.
Hơn nữa khi bị cáo Dương Thanh Cường bán 2 dự án số 10 Âu Cơ và đương Hòa Bình, ông Trần Be đã yêu cầu phải dùng số tiền dư 660 tỷ để mua 38 ha đất tại Khu công nghiệp Đức Hòa, tỉnh Long An của ông Trần Be.
Bị cáo Dương Thanh Cường phải đồng ý điều kiện của ông Trần Be.
Bởi vì công ty Thảo Loan phải vay Ngân Hàng Phương Nam 1150 tỷ đồng để mua 2 dự án của bị cáo Dương Thanh Cường.
Nếu bị cáo Dương Thanh Cường không đồng ý điều kiện này thì Ngân hàng Phương Nam không cho côn ty Thảo Loan vay 1150 tỷ đồng để mua 2 dự án của bị cáo Dương Thanh Cường.
Số tiền mà Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cho rằng bị cáo Dương Thanh Cường đã chiếm đoạt 520.001.125.829 đồng tại Agribank chi nhánh 6 thực chất đây là khoản nợ vay chưa trả.
Nhưng công ty Long “V” thực hiện cam kết giao 38 ha đất trị giá 651 tỷ cho Agribank chi nhánh 6 thì chẳng những Dương Thanh Cường trả được khoản nợ vay 520.001.125.829 đồng trong khoản vay 700 tỷ đồng mà bị cáo Dương Thanh Cường còn dư 130 998.874.171 đồng.
2). Thứ hai : Việc hoán đổi tài sản thế chấp 23 GCNQSDĐ tại Agribank chi nhánh 6 bằng 38 ha.
Bị cáo Dương Thanh Cường đã mượn 23 GCNQSDĐ đang thế chấp tại ngân hàng Agribank chi nhánh 6 đem thứ thế chấp tại Ngân hàng Phương Nam để vay tiền.
Khoản vay này bị cáo Dương Thanh Cường đã trả cho Ngân hàng Đông Phương bằng cách gán nợ 23 GCNQSDĐ cho Ngân hàng Phương Nam.
Bị cáo Dương Thanh Cường đã đề nghị với Agribank chi nhánh 6 việc hoán đổi tài sản thế chấp 23 GCNQSDĐ bang 38 ha.
Agribank chi nhánh 6 đã báo cáo với Agribank Việt Nam và Agribank Việt Nam đã đồng ý nhưng với điều kiện phải giám định 38 ha đất.
Kết quả giám định của công ty giấm định Nhà Nước đối với 38 ha trị giá là 651 tỷ đồng như tôi đã trình bày.
Qua những gì tôi đã trình bày trên đây cho thấy rằng bị cáo Dương Thanh Cường không chiếm đoạt số tiền 44.575 898 130 đồng trong khoản vay 170 tỷ đồng. Bởi vì trị giá tài sản thế chấp của bị cáo Dương Thanh Cường lên đến 211 tỷ, sau khi trừ khoản vay 170 tỷ bị cáo Dương Thanh Cường còn dư 41 tỷ.
Và bị cáo Dương Thanh Cường cũng không chiếm đoạt 520.001 125 829 đồng. Bởi vì nếu công ty Long “V” thực hiện 38 ha đất trị giá 651 tỷ đồng cho Agribank chi nhánh 6 thì chẳng những Dương Thanh Cường đã trả được khoản nợ vay trên mà bị cáo còn dư 130 998.874 179 đồng.
Nên tôi đề nghị qúy Tòa xem xét phúc xử bản án sơ thẩm tuyên bị cáo Dương Thanh Cường Không phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Trong trường hợp quý Tòa thận trọng cảm thấy chưa chắc chắn, tôi đề nghị quý tòa hủy bản án sơ thẩm trả lại hồ sơ cho cơ quan điều tra để điều tra bổ sung làm rõ những vấn đề mà tôi đã nêu tại phiện tòa phúc thẩm này.
Xin trân trọng cảm ơn quý Tòa.
B. Bài bào chữa của luật sư Nguyễn Đăng Trừng cho bị cáo Dương Thanh Cường tại phiên tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vi phạm quy định cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” xảy ra tại Agribank Bình Chánh.
Kính thưa Quý Tòa,
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm, nghe các bị cáo khai nhận tại phiên tòa và nghe Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm về vụ án, Tôi thấy cần thiết phải làm rõ mấy vấn đề sau đây để xem xét cho bị cáo Dương Thanh Cường.
1. Thứ nhất, Ông Nguyễn Văn Chức, Giám đốc Agribank Bình Chánh đã căn cứ vào đâu để cho công ty Tân Đại Phát vay 19.250.000.000 đồng ?
- Có phải đã dựa vào giá trị lô đất 4.588,2 m2 tại phường 3, TP Đà Lạt không?
Chắc chắn là không. Bởi các bị cáo Nguyễn Văn Lợi, Hoàng Như BÍch lúc đó là Phó Giám Đốc và Phó Phòng kế hoạch Kinh doanh Agribank Bình Chánh đã đi thẩm định lô đất trên và đã báo cáo với ông Chức là trị giá lô đất đó không đảm bảo khoản vay của Công ty Tân Đại Phát.
- Có phải ông Chức đã dựa vào hồ sơ Dương Thanh Cường đã giả mạo chữ kí của ông Phan Đăng Ngọc và bà Trần Thị Kiện nâng giá trị lô đất tại phường 3, TP Đà Lạt từ 3 tỷ đồng lên 47 tỷ đồng đẻ cho Tân Đại Phát vay 19.250.000.000 đồng
Cũng không phải. Bởi vì nếu ông Chức đồng ý trị giá lô đất đó là 4 tỷ thì ông Chức đã cho Tân Đại Phát vay số tiền lớn hơn 19.250.000.000 đồng.
- Vậy ông Chức đã căn cứ vào đâu để cho công ty Tân Đại Phát vay 19.250.000.000 đồng.
Chính là Ông Chức đã dựa vào trị giá lô đất phường 3, TP Đà Lạt 3 tỷ cộng với phần trị giá dư ra của khu đất 31, 889 m2 tại phường An Phú Đông Quận 12 đang thế chấp cho khoản vay 147,213.000.000 đồng của công ty Bình Phát mà bị cáo Dương Thanh Cường đã cam kết thế chấp bổ sung cho khoản vay của công ty Tân Đại Phát nên ông Chức đã xác định tài sản bảo đảm trên là 27 tỷ đồng và cho công ty Tân Đại Phát vay 19.250.000.000 đồng.
2. Thứ 2: Bản án sơ thẩm cho rằng bản cam kết thực hiện việc xử lí tài sản đang thế chấp của Dương Thanh Cường ngày 03 tháng 3 năm 2011 mà Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc đã trình bày cho chủ tọa phiên tòa sơ thẩm là “ hoàn toàn không liên quan đến việc kết luận đối với hồ sơ của công ty Tân Đại Phát và Thanh Phát” ( dòng 7,8,9 bản án sơ thẩm).
Có phải như thế không? Theo tôi không phải như thế. Bởi vì công ty Tân Đại Phát vay Agribank Bình Chánh 19.250.000.000 đồng, sau này chuyển nợ cho công ty Thanh Phát. Nên kết luận đối với hồ sơ cũ của công ty Tân Đại Phát và Thanh Phát tất yếu phải xem xét ông Chức đã dựa vào đâu mà quyết định cho Công Ty Tân Đại Phát vay 19.250.000.000 đồng như tôi đã trình bày ở trên.
Bản cam kết đã ghi rõ: “Nguồn thu từ xử lý các tài sản đang thế chấp của công ty CP Tập Đoàn Bình Phát tại chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn Bình Chánh thì Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn Bình Chánh được thực hiện thu nợ gốc và lãi của công ty CP Tập Đoàn Bình Phát, Công ty TNHH SX- DV-TM Thanh Phát và Công ty TNHH MTV Long Sơn theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết tại chi nhánh nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn Bình Chánh” ( Điều 6, Bản cam kết)
Các nội dung trên được các bên liên quan thống nhất và bằng cam kết này gửi đến chi nhánh nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn Bình Chánh thực hiện để xử lí tài sản nhằm thu nợ và lãi của công ty CP Tập Đoàn Bình Phát, Công ty TNHH SX- DV-TM Thanh Phát và Công ty TNHH MTV Long Sơn tại chi nhánh nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và phát triển nông thôn Bình Chánh mà không có bất kỳ sự khiếu nại sau này. Các bên liên quan thống nhất ký tên” ( Điều 7, Bản cam kết)
Bị cáo Dương Thanh Cường đã làm cam kết trước ngày bị cáo bị bắt và trước ngày khởi tố vụ án hình sự tại Agribank Bình Chánh.
Bản cam kết này chẳng những liên quan đến việc kết luận đối với hồ sơ của công ty Tân Đại Phát và Thanh Phát mà một lần nữa đã khẳng định rằng khi công ty Tân Đại Phát vay Dương Thanh Cường đã cam kết đưa phần trị giá dư ra của khu đất 31, 889 m2 tại phường An Phú Đông, Quận 12 đang thế chấp cho khoảng vay 147.213.000.000 đồng của công ty Bình Phát với trị giá lô đất ở phường 3, TP Đà Lạt để làm tài sản đảm bảo cho khoản vay của công ty Tân Đại Phát nên ông Chức đã đồng ý và xác định giá trị tài sản đảm bảo là 27 tỷ và chấp nhận cho bị cáo Dương Thanh Cường vay 19.250.000.000 đồng như bị cáo Dương Thanh Cường đã khai nhận tại CQĐT.
“Tôi cam kết với ông Chức dùng tài sản đảm bảo cho công ty Bình Phát là khu đất 31000m2 tại An Phú Đông, Quận 12 để đảm bảo cho công ty Tân ĐẠi Phát. Ông Chức đồng ý, ông Chức chỉ đạo nhân viên nâng giá lên 27 tỷ để tôi vay 19.250.000.000 đồng” ( BL số 1170 Hồ sơ vụ án)
3. Thứ ba: Trị giá các tài sản đang thế chấp của bị cáo Dương Thanh Cường có đủ để trả khoản nợ vay 19.250.000.000 đồng và lãi của khoản vay này không?
Theo tôi, bị cáo Dương Thanh Cường chẳng những trả đủ vốn vay 19.250.000.000 đồng và lãi mà còn dư được mấy tỷ đồng ít nhất là dư khoản gần 03 tỷ đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm tôi đã chứng minh tài sản thế chấp của công ty Bình Phát cao hơn khoản vay của công ty này. Cụ thể khu đất tại Phường An Phú Đông, Quận 12 cơ quan tư vấn thẩm định gái đã kết luận là 180 tỷ và nợ gốc của công ty Bình Phát là 147.213.000.000 đồng tức là cao hơn 32.687.000.000 đồng.
Còn lại giá trị lô đấtt tại phường 3, TP. Đà Lạt được Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng tỉnh Lâm Đồng xác định là 3995.505.500 đồng vào thời điểm năm 2009 và là 6.432.766.517 đồng vào thời điểm năm 2013.
Trong khi đó nguyên đơn dân sự Agribank Bình Chánh đã yêu cầu bị cáo Dương Thanh Cường phải trả cho Agribank Bình Chánh 33.738.995 033 đồng gồm 19.250.000.000 đồng nợ gốc và 14.488.995 033 đồng lãi.
Nếu lấy 32.687000.000 đồng tức là trị giá tài sản thế chấp của công ty Bình Phát cao hơn khoản vay của công ty này cộng với 3.995.505.500 đồng tức là trị giá lô đất phường 3, TP Đà Lạt vào thời điểm 2009 thì trị giá tài sản của Dương Thanh Cường đang thế chấp tại Agribank Bình Chánh 36.682.505.500 đồng.
Lấy 36.682.505.500 đồng - 33.738.995 033 đồng sẽ còn dư 2. 994.510.467 đồng nghĩa là tài sản của Dương Thanh Cường đang thế chấp tại Agribank Bình Chánh chẳng những trả đủ vốn vay 19.250.000.000 đồng và lãi mà còn dư được 03 tỷ đồng.
Nếu lấy 32.687000.000 đồng tức là giá trị tài sản thế chấp của công ty Bình Phát cao hơn khoản vay của công ty này cộng với 6.432.766.517 đồng tức giá trị lô đất tại phường 3, TP Đà Lạt vào thời điểm 2013 thì trị giá tài sản của Dương Thanh Cường là 39.119.766.517 đồng.
Lấy 39.119.766.517 đồng - 33.738.995 033 đồng dư 5.380.771.484 đồng nghĩa là tài sản của Dương Thanh Cường đang thế chấp tại Agribank Bình Chánh chẳng những đã đủ vốn vay 19.250.000.000 đồng và lãi mà còn dư được 05 tỷ đồng.
Trên đây tôi đã chứng minh với Quý Tòa bị cáo Dương Thanh Cường không chiếm đoạt một đồng nào của Agribank Bình Chánh. Trái lại tài sản đang thế chấp của Cường chẳng những đủ vốn vay 19.250.000.000 đồng và lãi mà còn dư đượctừ 03 tỷ đồng đến hơn 05 tỷ đồng.
4. Thứ 4: Bị cáo Dương Thanh Cường có phạm tội chiếm đoạt tài sản không?
Theo tôi là không. Bởi vì yếu tố bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải có sự chiếm đoạt tài sản chứ không chỉ có hành vi gian dối như trong đơn kháng cáo bị cáo Dương Thanh Cường đã khẳng định “ thực tế tôi không phạm tội “ lừa đảo chiếm đoạt tài sản””, “ mặc dù tôi có hành vi gian dối, giả mạo hồ sơ để được vay và giải ngân nhưng tài sản tôi thế chấp ngân hàng Agribank chi nhánh Bình Chánh là có thật và trị giá tài sản cao hơn khoản vay”.
Ở đây tôi xin phép đề nghị quý Tòa 2 phương án:
- Phương án thứ nhất: Qua lập luận mà tôi đã bào chữa cho bị cáo Dương Thanh Cường, nếu quý tòa thấy có đủ cơ sở để xác định bị cáo Dương Thanh Cường không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì quý Tòa tuyên bị cáo Dương Thanh Cường không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Phương án hai: Qua phần bào chữa của tôi đối với bị cáo Dương Thanh Cường mà quý tòa vẫn cảm thấy chưa chắc chắn thì tôi đề nghị quý Tòa quyết định hủy bản án sơ thẩm, giao lại hồ sơ cho CQĐT, điều ta lại để làm rõ vấn đề mà tôi đã nêu ra tại phiên tòa Phúc thẩm hôm nay.
Xin trân trọng cảm ơn quý Tòa.
Ls Nguyễn Đăng Trừng.